vituonglai

VÌ TƯƠNG LAI CON EM CHÚNG TA

Archive for the ‘Bài học về cách dạy con’ Category

Đọc để suy ngẫm: Đánh giá của người Mỹ về tính cách của người Việt Nam

Posted by tiennganat on March 11, 2011

Đây là tài liệu nghiên cứu của Mỹ khái quát về 10 đặc điểm nổi bật của người Việt Nam:

1. Cần cù lao động, song dễ thoả mãn, tâm lý hưởng thụ còn nặng
2. Thông minh, sáng tạo, song chỉ có tính chất đối phó, thiếu tư duy dài hạn, chủ động
3. Khéo léo, song không duy trì đến cùng (ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm)
4. Vừa thực tế, vừa mơ mộng, song lại không có ý tưởng nâng lên thành lý luận
5. Ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh, song ít khi học “đến đầu đến đuôi” nên kiến thức không hệ thống, mất cơ bản. Ngoài ra, học tập không phải là mục tiêu tự thân của mỗi người Việt Nam (nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện vì công ăn việc làm, ít chí khí, đam mê)
6. Xởi lởi, chiều khách, song không bền
7. Tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô bổ (sĩ diện, khoe khoang, thích học đòi)
8. Có tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái song hầu như chỉ trong những hoàn cảnh, trường hợp khó khăn, bần hàn, còn trong những điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này rất ít xuất hiện
9. Yêu hoà bình, nhẫn nhịn song nhiều khi lại hiếu chiến, hiếu thắng vì những lý do tự ái, lặt vặt
10. Thích tụ tập nhưng lại thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh (cùng 1 việc: 1 người làm thì tốt, 3 người làm thì kém, 7 người làm thì hỏng)


Advertisements

Posted in Lượm lặt, Mỹ | 1 Comment »

PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC MONTESSORI CHO TRẺ MẪU GIÁO

Posted by tiennganat on January 15, 2011

Lịch sử của phương pháp giáo dục Montessori

Tiến sĩ Maria Montessori, một bác sĩ và nhà giáo dục người Ý, đã phát triển phương pháp Montessori ở Rome, Italy. Tiến sĩ Montessori, làm việc với trẻ em được bảo hộ trong đầu những năm 1900, đã phát hiện ra rằng trẻ nhỏ trở nên thích thú khi tương tác với các đồ vật hấp dẫn. Thông qua sự tương tác  đó và kinh nghiệm thu được trong môi trường có chuẩn bị của bà, các em đã phát triển một mức độ cao kì lạ về khả năng trí tuệ và xã hội ở tuổi còn trẻ.

Mở rộng nghiên cứu về trẻ nhỏ, bà dần dần cải tiến phương pháp cho tất cả lĩnh vực phát triển của trẻ thông qua kinh nghiệm và nghiên cứu của mình ở các nước khác nhau như Tây Ban Nha và Ấn Độ cho đến khi mất vào năm 1952. Phương pháp Montessori hiện đang được thực hiện thành công với trẻ em ở gần như mọi quốc gia trên thế giới.

Phương pháp giáo dục Montessori

Phương pháp giáo dục Montessori đã có ảnh hưởng đáng kể tại Hoa Kỳ vào đầu những năm 1960, khi các bậc cha mẹ và nhà giáo dục bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục mầm non. Ngày nay có hơn 3.000 chương trình Montessori ở đất nước này, chúng có ảnh hưởng to lớn trong tất cả các khía cạnh của giáo dục Mỹ. Phương pháp Montessori được áp dụng thường xuyên nhất trong trường mẫu giáo và cấp bậc giáo dục tiểu học. Giáo dục Montessori không mang yếu tố tôn giáo, không phải là một liệu pháp, cũng không phải là một phương pháp hữu ích với chủ đích chỉ dành cho trẻ em đặc biệt. Phương pháp Montessori có hiệu quả trong trường mẫu giáo, trường tiểu học và trung học. Ngoài ra, các kỹ thuật Montessori có thể được sử dụng thành công với trẻ em có năng khiếu, trẻ em khuyết tật học tập và nhu cầu đặc biệt khác.

Tiến sĩ Marie Montessori

Triết lý giáo dục Montessori

Tiến sĩ Montessori phát triển triết lý giáo dục của mình thông qua quan sát và khám phá mà bà đã thực hiện về những phương thức học tập của trẻ em. Bà đã nhận thấy rằng trẻ em học tập theo các phương thức khác nhau rõ rệt ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Bà đã lập một chương trình giáo dục để đáp ứng các nhu cầu cụ thể của trẻ ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào, để giúp các em phát huy tối đa tiềm năng của mình.

Tiến sĩ Montessori không thích gọi nó là một “phương pháp”, mà là một “cách tiếp cận” cuộc sống. Bà nói: “Những gì tôi đã làm là chỉ đơn thuần là để nghiên cứu về trẻ em, đem ra và trình bày những gì chúng đã đem đến cho tôi.” Bà tin rằng không có ai được giáo dục bởi ai cả – anh ta phải tự làm điều đó, và do đó, mục tiêu của giáo dục mầm non phải là để bồi dưỡng mong muốn và khả năng tự nhiên của trẻ để học hỏi và bảo vệ bản tính thiết yếu của trẻ.

Học tập theo phương pháp Montessori

Ở trẻ nhỏ, Montessori đã phát hiện ra, có một năng khiếu đặc biệt cho việc học tập không tìm thấy một lần nữa ở bất kỳ giai đoạn khác của cuộc sống. Bà định nghĩa phẩm chất này là “trí tuệ tiếp thu”. Trẻ nhỏ tiếp thụ hoàn toàn thông tin từ môi trường xung quanh mình. Trong các khoảng thời gian nhất định trong giai đoạn phát triển này / chúng có khảng năng dễ dàng hơn khi tiếp thu các loại hình riêng biệt của việc học tập. Tiến sĩ Montessori gọi những thời kỳ này là “thời kỳ nhạy cảm”. Thu thập thông tin theo cách này là một hoạt động tự nhiên và thú vị đối với trẻ em, chúng sử dụng tất cả các giác quan của mình để khám phá môi trường xung quanh thú vị của mình.

Trẻ em vẫn giữ được khả năng học bằng cách hấp thu cho đến gần bảy tuổi, Tiến sĩ Montessori lý giải rằng ở lớp học nơi trẻ em có thể tiếp xúc với các đồ vật mang thông tin giáo dục cơ bản thì có thể làm phong phú thêm kinh nghiệm của chúng. Montessori đã thiết kế chỉ những lớp học kiểu này, và bà gọi nó là “môi trường được chuẩn bị”. Trong môi trường này mọi thứ đều được thu nhỏ tới kích thước phù hợp cho trẻ; đồ vật hấp dẫn, mô phạm, và được trình bày một cách có trật tự. Các đồ vật bao trùm các lĩnh vực của đời sống thực tế (về con  người và môi trường); nhận thức theo giác quan, ngôn ngữ, toán học, và các chủ đề văn hoá (nghệ thuật, âm nhạc, địa lý, lịch sử và khoa học). Trong lớp học môi trường xung quanh là các giáo viên thực sự, lấy trẻ em là trung tâm.

Các nhiệm vụ của Giáo viên Montessori là:

  • chuẩn bị một loạt các hoạt động thúc đẩy liên kết trẻ với các đồ vật;
  • định hướng và lựa chọn đồ vật phù hợp với sức lực của trẻ, theo trạng thái phát triển của chúng;
  • minh chứng sự sử dụng đồ vật phù hợp của trẻ và sau đó để tránh không can thiệp.

Trong môi trường được chuẩn bị, trẻ em ở các lứa tuổi và khả năng khác nhau hoạt động, mỗi em ở mức độ của chúng, không bao giờ phải chịu áp lực cạnh tranh với các bạn khác cùng lớp.  Trẻ em gọi các hoạt động của chúng như là “làm việc”.  Chúng nói về “làm việc” với niềm tự hào, coi nó giống như công việc của cha mẹ chúng.

Chương trình được thiết kế để giúp trẻ phát triển tập trung, phối hợp, kỷ luật nội tại, và thói quen làm việc tốt. Khi trẻ đạt được tự chủ/tự kỷ luật, chúng được cho phép tự do ngày càng lớn hơn để chuyển sang môi trường và làm việc với bất cứ đồ vật nào chúng chọn, miễn là giáo viên thấy phù hợp với mức độ phát triển của đứa trẻ và chúng được sử dụng theo cách đã thiết lập.

Học qua làm

Những đứa trẻ trong một lớp học Montessori học thông qua làm, chúng theo đuổi nhiệm vụ của mình một cách độc lập theo nhóm hoặc một mình. Giáo viên Montessori hoạt động như một người chỉ dẫn và là nhân tố kích thích tính tò mò không bao giờ kết thúc của trẻ. Các đồ vật Montessori được thiết kế để tự điều chỉnh, khuyến khích giải quyết vấn đề độc lập và loại bỏ vai trò, cải huấn kỷ luật của giáo viên truyền thống. Giáo viên Montessori và học sinh là bạn nhanh chóng với một sự tôn trọng lành mạnh dành cho nhau.

Montessori tin rằng một đứa trẻ được cho phép để phát triển nhân cách của mình một cách tự do và độc lập, nó được khuyến khích để tìm hiểu và thử nghiệm những điều mới mẻ sẽ phát triển trách nhiệm và tính sáng tạo trưởng thành nhiều hơn nhiều so với một đứa trẻ bị áp lực và kỷ luật. Triết lý của cô là không được nhầm lẫn với sự quá dễ dãi như thường được hiểu. Có một trật tự trong một lớp học Montessori làm việc vì tiến bộ của mọi người. Trẻ em nhanh chóng học được rằng nếu chúng chăm sóc cho môi trường và đồng loại của chúng, chính chúng sẽ có nhiều kinh nghiệm phong phú hơn. Chúng học rằng tự do là quý giá, nhưng để giữ lại nó, chúng ta phải chịu những trách nhiệm nhất định.

Môi trường Montessori

Môi trường Montessori mang tính xã hội cao trong đó trẻ em được giao tiếp thường xuyên với và chăm sóc cho nhau. Chúng tự hào về môi trường của chúng, vì chúng là trực tiếp tham gia chăm sóc và đóng góp vào nó. Có một mối lượng lớn của đồ vật sẵn có cho chúng liên quan đến thực vật và động vật trên khắp thế giới. Nghệ sĩ và nhạc sĩ được hình dung thông qua những bản sao và bản ghi âm tác phẩm của mình, và trẻ em vào thế giới nghệ thuật thông qua việc tham gia vào nghệ thuật và hàng thủ công và các hoạt động âm nhạc.

Nguồn: http://www.alfredmontessori.com (biên tập lại từ googetranslate)

 

Posted in Lượm lặt, Mỹ | Tagged: , , , , , , , , | 1 Comment »

Học người Mỹ cách dạy trẻ con mẫu giáo

Posted by tiennganat on January 15, 2011

Thử xem nền giáo dục Mỹ, nền giáo dục được coi là tiên tiến và hiện đại bậc nhất thế giới dạy trẻ em mẫu giáo như thế nào nhé!

Một nhà khoa học đoạt giải Nobel khi được hỏi, ở đâu ông học được những kiến thức khiến ông trở nên vĩ đại như vậy? đã trả lời rằng: Nơi tôi học được nhiều nhất đó là vườn trẻ, vì rằng, ở đó người ta dạy tôi cách biết tuân thủ các quy định, biết nói xin lỗi khi mình sai…

Có lẽ sẽ là thừa khi chúng ta nhắc lại ở đây những lý luận nhằm chứng minh vai trò rất quan trọng của giáo dục trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo đối với quá trình phát triển nhân cách của trẻ. Tuy nhiên, câu trả lời sẽ trở nên thú vị, khi chúng ta tìm hiểu việc giáo dục trẻ em độ tuổi mẫu giáo ở Mỹ, nơi nền giáo dục được coi là hiện đại và tiên tiến bậc nhất trên thế giới.

Dạy trẻ từ tính tự lập

Người Mỹ rất coi trọng tinh thần độc lập, tự lực cánh sinh của mỗi người. Vì thế, ngay từ khi trẻ một tuổi rưỡi, họ đã bắt đầu dạy cho trẻ các kỹ năng tự phục vụ bản thân. Họ cho rằng, nắm bắt các kỹ năng tự phục vụ có thể giúp trẻ tăng cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công, nó không chỉ có lợi cho sự phát triển của trẻ mà còn giúp ích rất nhiều cho chính những người lớn.
Những người làm công tác giáo dục mẫu giáo ở Mỹ đều được nhấn mạnh việc giáo dục cho trẻ những kỹ năng tự phục vụ. Bất cứ sự chăm sóc nào từ phía người lớn cũng phải tạo cho trẻ những cơ hội để rèn luyện cho trẻ các kỹ năng này. Đồng thời, họ cũng đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của gia đình để giúp các kỹ năng mà trẻ được dạy ở lớp được rèn luyện và thực hành ngay tại nhà.

Các kỹ năng tự phục vụ của trẻ bao gồm: Buộc dây giầy, mặc quần áo, cài cúc áo, kéo phéc-mơ-tuya, rửa mặt, đánh răng, chải đầu, ăn cơm… Tuy nhiên, những kỹ năng này không đồng nhất ở tất cả các giai đoạn phát triển của trẻ. Các nhà nghiên cứu, sau nhiều năm nghiên cứu và quan sát đã chỉ ra rằng: Trẻ từ 18-24 tháng có thể tự dùng cốc uống nước, có thể tự nhặt lấy đồ chơi; từ 2-3 tuổi có thể học cách tự mình đi đại tiểu tiện, ăn cơm, mở phéc-mơ-tuya và mặc quần áo; từ 3-4 tuổi, tính độc lập của trẻ đều phát triển mạnh, những kỹ năng đã học được ở trên đều trở nên thành thục hơn, gần như trẻ có thể làm mà không cần sự giúp đỡ của người lớn; từ 5-6 tuổi, trẻ có thể học cách tự rửa bát, sắp xếp đồ đạc của mình ngay ngắn,…

Những giáo viên mẫu giáo Mỹ khi rèn luyện cho trẻ khả năng tự lập thường dùng phương pháp là: Đồng thời với việc đề ra nhiệm vụ, họ cũng đưa ra những điều kiện để trẻ có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách dễ dàng hơn. Chẳng hạn, để dạy trẻ tự mang giày, họ thường đưa cho trẻ những đôi giày to hơn một chút so với cỡ chân của các em. Hoặc để dạy trẻ tự rót nước sữa, họ đưa cho trẻ những bình sữa có miệng to giúp trẻ thực hiện công việc một cách dễ dàng hơn. Cách làm như vậy sẽ gây cho trẻ hứng thú cũng như tự tin trong việc hoàn thành các “nhiệm vụ”.

Đến sự lễ phép

Ở các trường mẫu giáo ở Mỹ, ngoài việc khơi mở trí lực giai đoạn đầu cho trẻ, người ta rất coi trọng việc dạy cho trẻ các quy tắc lễ nghi. Yêu cầu đối với mỗi em là phải nghe theo lời chỉ bảo của các giáo viên, học cách tham gia các hoạt động tập thể cùng với những học sinh khác. Trong các trường mẫu giáo ở Mỹ, mỗi khi có một bạn nhỏ hắt xì, sẽ phải nói với những người bạn xung quanh của em rằng: “Xin lỗi!”, ngược lại, những người bạn của em sẽ nói: “Chúc phúc cho cậu!”. Điều này đã trở thành một hành vi tự giác của trẻ.

Đối với những trẻ em phạm lỗi, không nghe lời,… người ta thường dùng phương pháp “phạt ở một mình”. Lý do là, trẻ em ở độ tuổi này sợ nhất là việc phải ở một mình. Hơn nữa, phương pháp này cũng có tính khoa học của nó. Khi trẻ bình tĩnh trở lại, mới giảng giải điều hay lẽ phải cho trẻ hiệu quả sẽ cao hơn rất nhiều. Tất nhiên việc “giam” một mình đối với trẻ có phần nào đó khó chấp nhận đối với các bậc phụ huynh, tuy nhiên, nó có thể tạo được ảnh hưởng tích cực, đó chính là giúp trẻ hình thành thói quen giữ bình tĩnh trở lại khi đang tức giận. Nổi nóng ở những nơi công cộng là điều dường như không ai có thể chấp nhận được ở Mỹ. Do đó có thể khống chế được tình cảm của bản thân, bất luận trong tình huống như thế nào cũng có thể bình tĩnh ứng xử là một nội dung quan trọng trong các mối quan hệ công chúng ở Mỹ. Phong độ cũng như sự trầm tĩnh của người Mỹ, có lẽ liên quan nhiều đến phương pháp giáo dục ngay từ độ tuổi mẫu giáo này.

Trong việc giáo dục những lễ nghi ứng xử cho trẻ ở giai đoạn này, một trong những yếu tố rất được đề cao là vai trò của người giáo viên. Ở độ tuổi mẫu giáo, những điều trẻ học được không phải là những lý giải mà là những mô phỏng. Vì thế, nếu như những thầy cô giáo ở trường có thái độ không tốt đối với trẻ, chúng sẽ học theo các thầy cô, đối xử không tốt với bạn bè và người xung quanh. Nói cách khác, hành vi của giáo viên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý cũng như sự hình thành tính cách của trẻ. Do đó, những giáo viên mẫu giáo ở Mỹ đều phải thông qua những yêu cầu rất nghiêm ngặt về trình độ. Bên cạnh yêu cầu trình độ cử nhân trở lên, những giáo viên này còn phải thông qua một chương trình tập huấn chuyên nghiệp và đạt được “Chứng chỉ giáo viên mẫu giáo” hoặc “Chứng chỉ giáo viên tiểu học”. Những năm gần đây, một số bang của Mỹ còn đưa ra yêu cầu trình độ tối thiểu là thạc sỹ đối với các giáo viên ở trường mẫu giáo.

Sự tôn trọng: Chất “dinh dưỡng” đặc biệt

Cô trò trong lớp mẫu giáo (ảnh: Internet)

Ở Mỹ, việc tôn trọng trẻ em không chỉ vì chúng nhỏ tuổi, cần sự ưu ái, quan tâm, chăm sóc mà còn vì trong quan niệm của họ, mỗi đứa trẻ ngay từ khi ra đời đã là một cá thể độc lập, có cá tính và những mong muốn độc lập của mình. Bất kể là bố mẹ hay thầy cô giáo đều không có đặc quyền chi phối và hạn chế hành vi của chúng. Đặc biệt là trẻ em, sau này trưởng thành, cha mẹ hay thầy cô không thể thay thế thế chúng trong những lựa chọn mà chúng phải đối mặt trong hiện thực. Vì thế, cần phải làm cho trẻ cảm thấy rằng, bản thân chúng, chứ không phải ai khác là chủ nhân của mình.

Chẳng hạn, người Mỹ rất chú ý đến phương pháp cũng như giọng điệu khi nói chuyện với trẻ. Khi nói chuyện với trẻ, người lớn không chỉ phải chăm chú nghe mà có lúc còn phải quỳ xuống để nói chuyện với trẻ một cách “bình đẳng”, khiến trẻ cảm thấy được tôn trọng. Khi trẻ ăn cơm, không thể ép, khi trẻ phạm lỗi không nên quở mắng quá lời, khi muốn trẻ thay quần áo, cũng không thể to tiếng quát nạt,… nếu không, sẽ làm cho trẻ cảm giác nặng nề và tự ti.

Người Mỹ, khi đem con đến nhà người khác, nếu như chủ nhân đưa đồ ăn cho trẻ, họ sẽ không thay trẻ nói những câu đại loại như: “Không ăn đâu!”, “Không cần đâu!”,… Đồng thời, khi trẻ tỏ ý muốn ăn đồ ăn, họ cũng sẽ không to tiếng quát mắng. Họ cho rằng, trẻ muốn xem gì, ăn gì, bản thân nó không có gì sai, nếu như trẻ có nhu cầu đó, không có lý do gì có thể chỉ trích chúng cả. Điều những người lớn phải làm là, căn cứ vào thời điểm thích hợp mà đưa ra sự giảng giải thích hợp để trẻ hiểu, với tư cách là “người hướng dẫn”. Người Mỹ phản đối việc dạy dỗ con cái trước mặt người khác, càng không cho phép việc trách mắng là “ngu dốt”, “chẳng làm nên trò trống gì”, “không có chí khí”,… trước mặt nhiều người. Vì rằng, cách dạy dỗ đó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tự tin cũng như sự phát triển về sau của trẻ.

Nhà giáo dục vĩ đại John Locke từng nói: “Bố mẹ không nói nhiều đến các lỗi của con cái thì chúng sẽ ngày càng coi trọng danh dự của bản thân, từ đó cố gắng để đạt được những lời khen ngợi của người khác đối với mình. Nếu như cha mẹ trước mặt mọi người nhắc đến lỗi lầm của trẻ sẽ khiến chúng xấu hổ. Trẻ em càng cảm thấy danh dự của bản thân bị tổn hại, lại càng ít chú ý đến việc giữ gìn danh dự”. Có người cho rằng, người Mỹ đã tôn trọng con cái một cách quá đáng, nhưng thực tế đã chứng minh, những trẻ em được bố mẹ chúng tôn trọng tỏ ra rất hợp tác với bố mẹ, hữu hảo với bạn bè, rất lễ phép, không có cảm giác mất tự nhiên khi nói chuyện với người lớn.

Hai mươi phút quan trọng trong ngày

Nhiều nhà giáo dục Mỹ kêu gọi các bậc cha mẹ dành 20 phút mỗi ngày để đọc sách cho con cái của mình nghe. Hai mươi phút là thời gian không dài nhưng sẽ rất hữu ích với trẻ. Qua giọng đọc rủ rỉ của cha mẹ mỗi ngày, hứng thú về việc đọc sách sẽ dần được hình thành trong trẻ. Bên cạnh đó, thực tiễn đã chứng minh, việc trẻ được nghe đọc sách thường xuyên có thể giúp trẻ tăng cường khả năng chú ý, vốn từ vựng, kích thích, khơi gợi trí tưởng tượng, mở rộng tầm nhìn và kiến văn cho trẻ,… Vì thế, ở Mỹ các chuyên gia đều khuyên các bậc phụ huynh đọc sách cho trẻ nghe càng sớm càng tốt.

Đọc sách cho con (ảnh: Internet)

Người Mỹ rất chú trọng việc đọc sách cho trẻ nghe mỗi ngày. Tại bang Hawaii nước Mỹ, các nhà giáo dục kết hợp với chính quyền nơi đây đã tổ chức cả một hoạt động quy mô: “Hãy đọc vì trẻ em”, kêu gọi các bậc phụ huynh mỗi ngày dành ít nhất là 10 phút để đọc sách cho trẻ nghe. Hoạt động này nhanh chóng lan rộng ra các bang khác của Mỹ với quy mô ngày càng lớn. Từ đó, không ít các tập đoàn kinh tế tổ chức và tham gia các loại hoạt động tương tự, đồng thời gọi đó là: “Hai mươi phút quan trọng nhất trong ngày của bạn”.

Lâu nay, người ta nói nhiều, bàn nhiều đến giáo dục Mỹ với một sự ngưỡng vọng về một nền giáo dục hiện đại và phát triển nhất thế giới. Điều gì tạo nên thành công của nền giáo dục Mỹ? Nguyên nhân thì có rất nhiều, song, có lẽ một trong những nguyên nhân quan trọng là người Mỹ đã quan tâm một cách thực sự đến việc giáo dục và đào tạo con người ngay từ giai đoạn đầu tiên. Cách mà người Mỹ dạy trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo có lẽ sẽ cho chúng ta nhiều gợi ý về một sự quan tâm đúng mức trong việc giáo dục trẻ ở giai đoạn này.

Nguồn: Afamily.vn -Theo Chúngta

Posted in Bài học về cách dạy con, Lượm lặt, Mỹ | Tagged: , , , , | 1 Comment »

CÁCH DẠY CON Ở MỸ – MỘT BÀI HỌC HAY

Posted by tiennganat on January 8, 2011

Dâu Tây dạy con, mẹ chồng đại khai nhãn giới.

Con trai tôi du học, sau khi tốt nghiệp thì định cư tại Mỹ, và đã kiếm cho tôi cô con dâu người Tây tên Susan. Hiện giờ, cháu trai Peter đã 3 tuổi. Mùa hè năm nay, con trai đăng ký visa “thăm người thân”. Thời gian 3 tháng tôi lưu lại Mỹ, con dâu Tây Susan có cách giáo dục con cái làm tôi đây – người mẹ chồng – phải đại khai nhãn giới.


Phần 1: Không ăn thì cứ nhịn đói

Mỗi buổi sáng, sau khi Peter thức dậy, Susan để phần ăn sang lên bàn và bận rộn làm việc khác. Peter sẽ tự mình leo lên chiếc ghế, uống sữa, ăn bánh sandwich, sau khi ăn no, nó sẽ tự về phòng của mình, tự tìm quần áo trên tủ, rồi tự lấy giày, tự mình mặc lên. Bất kể chỉ mới 3 tuổi thôi, vẫn chưa phân biệt rõ ràng mặt trái hay mặt phải của bít tất, giày trái hay giày phải.
Có một lần, Peter lại mặc ngược chiếc quần lên người, tôi vội vàng chạy đến muốn thay lại cho cháu, nhưng đã bị Susan cản lại. Nó nói, nếu cảm thấy không thoải mái tự cháu sẽ cởi ra, và mặc lại; nếu nó không cảm thấy không có gì là không thoải mái, vậy thì tùy. Và nguyên ngày đó, Peter mặc cái quần ngược đó chạy tới chạy lui, Susan như không thấy gì hết.
Một lần nữa, Peter ra ngoài chơi với cháu nhà hàng xóm, chưa được bao lâu thì nó chạy thở hổn hển về đến nhà, nói với Susan: “Mẹ ơi, Lusi nói cái quần của con mặc ngược rồi, đúng không? Lusi là con nhà hàng xóm, năm nay 5 tuổi. Susan mỉm cười nói: “Đúng vậy, con có muốn mặc lại không?” Peter gật gật đầu, tự mình cởi quần ra, xem tỉ mỉ rồi, bắt đầu mặc lại. Từ lần đó về sau, Peter không bao giờ mặc ngược quần nữa.
Tôi đã không kiềm được mà nhớ lại, cháu gái ngoại của tôi lúc 5 – 6 tuổi chưa biết dùng đũa, lúc học tiểu học còn chưa biết cột dây giày, và bây giờ đang theo trung học dạng ký túc xá, mỗi cuối tuần là đem một đống quần áo dơ về nhà.
Có một buổi trưa, Peter giận dỗi, không chịu ăn cơm. Susan la rầy mấy câu, Peter giận hờn đẩy khay cơm xuống đất, thức ăn trên khay rớt đầy trên đất. Susan nhìn Peter, giọng nói nghiêm khắc: “Xem ra con đúng là không muốn ăn thật! Nhớ lấy, từ giờ đến sáng mai, con không được ăn gì hết.” Peter gật gật đầu, kiên quyết trả lời: “Yes!” Và tôi chợt cười thầm, hai mẹ con này cứng đầu như nhau!
Buổi chiều, Susan bàn với tôi, nhờ tôi nấu món ăn Việt Nam cho bữa tối . Tôi lại thầm nghĩ, Peter đặc biệt thích món ăn Việt Nam, nhất định Susan thấy sáng nay cháu không ăn gì hết, nên muốn buổi tối cháu ăn ngon và nhiều hơn. Tôi bèn trổ tài nấu ăn, làm món sườn chua ngọt mà Peter thích nhất, món tôm, và còn dùng mì Ý để làm món mì kiểu Việt Nam mà Peter rất thích, người nhỏ nhỏ như thế mà có thể ăn được một tô lớn.
Bắt đầu bữa cơm tối, Peter vui mừng nhảy lên ghế ngồi. Susan đến lấy đi dĩa và nĩa của con, nói: “Chúng ta giao ước rồi phải không, hôm nay con không được ăn gì hết, chính con cũng đồng ý rồi đó.” Peter nhìn nét mặt nghiêm túc của người mẹ, “òa” lên khóc, vừa khóc vừa nói: “Mẹ ơi, con đói, con muốn ăn cơm.” “Không được, nói rồi là phải giữ lời.” Susan không một chút động lòng. Tôi thấy đau lòng muốn thay cháu cầu xin, nói đỡ lời dùm, nhưng thấy ánh mắt ra hiệu của con trai tôi. Nhớ lại lúc mới đến Mỹ, con trai có nói với tôi: “Ớ nước Mỹ, lúc cha mẹ giáo dục con cái, người ngoài không nên nhúng tay, bất kể là trưởng bối cũng không ngoại lệ.” Không còn cách nào, tôi chỉ còn giữ im lặng mà thôi. Bữa cơm đó, từ đầu đến cuối, Peter tội nghiệp chỉ ngồi chơi với chiếc xe mô hình, mắt trưng trừng nhìn ba người lớn chúng tôi ăn như hổ đói. Đến đó tôi mới biết dụng ý của Susan khi nhờ tôi nấu món Việt. Tôi tin rằng, lần sau, trong lúc Peter muốn giận hờn quăng liệng thức ăn, nhất định sẽ nghĩ đến kinh nghiệm bụng đói nhìn ba mẹ và bà nội ăn cao lương mỹ vị. Bụng đói không dễ chịu tí nào, huống chi là đối mặt với món mình thích ăn.
Buổi tối, tôi và Susan cùng đến chúc Peter ngủ ngon. Peter cẩn thận dè dặt hỏi: “Mẹ ơi, con đói lắm, giờ con có thể ăn món Việt không?” Susan mỉm cười lắc đầu, kiên quyết nói: “Không!” Peter nuốt nước miếng, lại hỏi: “Vậy để con ngủ dậy rồi khi mở mắt con được ăn chứ?” “Đương nhiên được rồi”, Susan thật dịu dàng khẽ đáp. Peter đã cười tươi hẳn ra.

Sau bài học này, Peter rất tích cực ăn cơm, nó không muốn vì “tuyệt thực” mà lỡ bữa ăn ngon, và chịu cực hình bụng đói. Mỗi lần nhìn thấy Peter ngoạm từng phần lớn thức ăn, lúc miệng và mặt dính đầy thức ăn, tôi lại nhớ đến cháu ngoại, hồi bằng tuổi Peter; mấy người cầm tô cơm dí theo sau đuôi nó, dỗ dành, mà nó còn chưa chịu ngoan ngõan ăn, mà còn ra điều kiện: ăn xong chén cơm mua một kiện đồ chơi, ăn thêm một chén thì mua thêm một kiện đồ chơi…

Phần 2: Ăn miếng trả miếng

Có một lần, chúng tôi dắt Peter ra công viên chơi. Rất nhanh, Peter đã cùng hai cô bé chơi nấu ăn với nhau. Cái nồi nhỏ bằng mủ, cái xẻng nhỏ, cái thau nhỏ, những cái chén nhỏ xếp đầy trên đường. Bất ngờ, Peter tinh nghịch cầm cái nồi bằng nhựa lên, đập rất mạnh lên đầu một cô bé. Cô bé bần thần một lúc trước khi oà khóc thật lớn. Cháu gái kia thấy tình hình vậy cũng òa khóc theo. Đại khái, Peter cũng không nghĩ đến hậu quả nghiêm trọng như vậy sẽ xảy ra, đứng qua một bên, trợn mắt nhìn. Susan đi tới. Sau khi hiểu được đầu đuôi sự việc, nó không quát nạt một tiếng, cầm lấy cái nồi ấy, gõ mạnh một cái lên đầu Peter. Peter không phòng bị, té ngã xuống bãi cỏ, khóc nức nở. Susan hỏi Peter: “Đau không? Lần sau có còn làm thế nữa không?” Peter vừa khóc vừa lắc đầu. Tôi tin rằng, lần sau nó sẽ không làm thế nữa.

Cậu của Peter tặng cho cháu một chiếc xe đạp nhỏ, Peter rất thích, khư khư giữ làm bảo bối không cho ai đụng vào. Lusi cô bé trong xóm, là bạn thân của Peter, đã mấy lần thỉnh cầu Peter cho chạy thử chiếc xe nhỏ này, Peter không đồng ý. Một lần, mấy cháu đang chơi chung với nhau, Lusi thừa lúc Peter không để ý, lén lén nhảy lên chiếc xe và đạp mau đi. Khi biết ra, Peter rất phẫn nộ, đến méc mẹ. Susan đang ngồi nói chuyện và uống café với mẹ của những đứa nhỏ kia, liền mỉm cười trả lời con: “Chuyện của chúng con thì chúng con tự giải quyết, mẹ không xen vào được.” Peter bất lực quay đi. Một lát sau, Lusi chạy chiếc xe về. Vừa thấy Lusi, Peter lập tức chạy tới đẩy bạn té xuống đất, giật lại chiếc xe. Lusi ngồi bệt dưới đất, khóc ré lên. Susan ẵm Lusi dậy và dỗ dành một lát. Rất nhanh sau đó Lusi đã chơi vui vẻ lại với những bạn còn lại. Peter tự mình chạy xe tới lui một lát thì cảm thấy hơi nhàm chán, nhìn thấy những bạn kia chơi thật vui vẻ với nhau nên nó muốn tham gia chung. Nó chạy tới chỗ Susan, lầu bầu thưa: “Mẹ, con muốn chơi với Lusi và tụi nó.” Susan không đả động gì và trả lời: “Con tự kiếm mấy bạn ấy vậy!” “Mẹ ơi, mẹ đi với con nhen”, Peter thỉnh cầu. “Chuyện này không được rồi, lúc nãy con đã làm cho Lusi khóc, giờ con lại muốn chơi với mọi người, vậy con phải tự đi giải quyết vấn đề”. Peter leo lên chiếc xe và chạy từ từ đến chỗ Lusi, lúc gần đến chỗ, thì nó lại quay ngược đi. Chạy tới lui mấy vòng như vậy, không biết từ lúc nào mà Peter và Lusi lại vui vẻ với nhau, hợp thành nhóm ồn ào.


Dạy dỗ chăm nom con cái là chuyện của cha mẹ

Song thân Susan , biết tôi đang ở Mỹ, nên lái xe từ California đến thăm chúng tôi. Nhà có khách tới, Peter rất hào hứng, chạy lên chạy xuống. Nó lấy cái thùng đựng đầy nước, rồi xách đi tới đi lui trong nhà. Susan cảnh cáo nó mấy lần rồi, rằng không được làm nước văng lung tung trong nhà. Peter để ngoài tai. Cuối cùng Peter đã làm nước đổ hết ra nền. Chưa thấy mình làm sai, Peter còn đắc ý dẫm đạp lên vũng nước, làm ướt hết quần áo. Tôi lập tức chạy đi lấy cây lau nhà để dọn dẹp. Susan giật lại cây lau nhà và đem đưa cho Peter, nói với nó: “Lau sàn cho khô, cởi đồ ướt ra và tự mình giặt sạch.” Peter không chịu vừa khóc vừa la. Susan không nói thêm lời nào, lập tức kéo nó đến phòng trữ đồ, đóng chặt cửa lại. Nghe từ bên trong tiếng khóc hoảng sợ của nó, tim tôi đau thắt lại, rất muốn chạy đến ẵm cháu ra. Bà ngoại của Peter lại cản tôi, nói: “Đó là chuyện của Susan”. Một
lát sau, Peter không khóc nữa, nó ở trong phòng trữ đồ hét thật lớn: “Mẹ ơi, con sai rồi!” Susan đứng ở ngoài hỏi: “Thế giờ con biết phải làm gì chưa?” “Con biết.” Susan mở cửa ra, Peter chạy từ phòng trữ đồ ra, nước mắt đầy mặt. Nó cầm cây lau nhà cao gấp đôi nó ra sức lau cho khô sàn nhà. Sau đó tự cởi quần áo dơ ra, xách trên tay, trần truồng chạy vô nhà tắm, hí hửng giặt đồ. Ông bà ngoại của nó nhìn vào thái độ kinh ngạc của tôi, thích thú mỉm cười. Sự việc này làm tôi cảm động vô cùng.
Ở rất nhiều gia đình Việt Nam, cha mẹ giáo dục con cái thì thường phát sinh vấn đề “đại thế chiến”. Trẻ luôn luôn được ngoại nuông chiều, nội thì can ngăn, vợ chồng cãi nhau, gà bay chó chạy. Sau này, tôi và ông bà ngoại của Peter trong khi trò chuyện có nhắc đến chuyện này, một câu họ nói đã gây ấn tượng sâu sắc cho tôi : “Con trẻ là con cái của cha mẹ chúng, trước tiên phải tôn trọng cách giáo dục của cha mẹ”. Đứa bé tuy còn nhỏ, nhưng thường mang tính nghịch ngợm bẩm sinh. Nếu quan sát thấy các thành viên trong gia đình có mâu thuẫn, nó sẽ nhạy bén lợi dụng sơ hở. Việc này không cải thiện hành vi của nó, và chẳng ích lợi gì cho nó. Ngược lại còn làm cho vấn đề càng nghiêm trọng hơn, thậm chí còn gây ra những vấn đề khác.
Ngoài ra, nếu các thành viên trong gia đình xung đột, không khí gia đình không hòa thuận, trẻ sẽ có cảm giác bất an, sự phát triển tâm lý của nó sẽ bị ảnh hưởng bất lợi. Cho nên, dù ông bà cha mẹ bất đồng về cách giáo dục con cháu, hay là vợ chồng có quan niệm giáo dục khác nhau, cũng không nên để lộ sự mâu thuẫn trước mặt con cái. Ông bà ngoại của Peter ở lại một tuần và chuẩn bị về Cali. Hai ngày trước khi đi, ông ngoại của Peter rất nghiêm túc hỏi con gái mình: “Peter muốn chiếc xe đào đất, ba có thể mua cho nó chứ?”. Susan suy nghĩ rồi nói: “Ba mẹ lần này đã mua cho nó đôi giày trượt băng làm qùa rồi. Đợi đến Noel ba hãy mua chiếc xe đó cho nó!”
Tôi không biết ông ngoại của Peter nói như thế nào với thằng nhóc này, mà sau đó tôi dắt cháu đi siêu thị, nó chỉ tay vào món đồ chơi, khoe “Ông ngoại nói, đến Noel


Nguồn: Sưu tầm.

 

Posted in Bài học về cách dạy con | Tagged: , , , , , | 4 Comments »