vituonglai

VÌ TƯƠNG LAI CON EM CHÚNG TA

Đọc để suy ngẫm: Đánh giá của người Mỹ về tính cách của người Việt Nam

Posted by tiennganat on March 11, 2011

Đây là tài liệu nghiên cứu của Mỹ khái quát về 10 đặc điểm nổi bật của người Việt Nam:

1. Cần cù lao động, song dễ thoả mãn, tâm lý hưởng thụ còn nặng
2. Thông minh, sáng tạo, song chỉ có tính chất đối phó, thiếu tư duy dài hạn, chủ động
3. Khéo léo, song không duy trì đến cùng (ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm)
4. Vừa thực tế, vừa mơ mộng, song lại không có ý tưởng nâng lên thành lý luận
5. Ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh, song ít khi học “đến đầu đến đuôi” nên kiến thức không hệ thống, mất cơ bản. Ngoài ra, học tập không phải là mục tiêu tự thân của mỗi người Việt Nam (nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện vì công ăn việc làm, ít chí khí, đam mê)
6. Xởi lởi, chiều khách, song không bền
7. Tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô bổ (sĩ diện, khoe khoang, thích học đòi)
8. Có tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái song hầu như chỉ trong những hoàn cảnh, trường hợp khó khăn, bần hàn, còn trong những điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này rất ít xuất hiện
9. Yêu hoà bình, nhẫn nhịn song nhiều khi lại hiếu chiến, hiếu thắng vì những lý do tự ái, lặt vặt
10. Thích tụ tập nhưng lại thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh (cùng 1 việc: 1 người làm thì tốt, 3 người làm thì kém, 7 người làm thì hỏng)


Posted in Lượm lặt, Mỹ | 1 Comment »

GS Mỹ nói về tật xấu trong giao tiếp của người Việt

Posted by tiennganat on March 11, 2011

Bài viết dưới đây được David Pickus – Giáo sư đến từ ĐH Arizona (Mỹ) viết và gửi riêng cho VNR500.

Thông điệp khác nhau đằng sau mỗi nụ cười

Ai đã từng ngắm cảnh bình minh chắc đều nhận thấy một điều là, ban đầu, bạn sẽ không nhìn thấy gì hết. Rồi dần dần mọi thứ mới hiện rõ hơn. Sau khi định thần lại, bạn sẽ thắc mắc tại sao vừa nãy mình lại không nhìn thấy cả những vật ở ngay trước mặt  mà chỉ thấy một khối đen đặc và đồng nhất.

Đây cũng chính là cảm giác của tôi, một công dân Mỹ, khi tới Việt Nam – tôi như người đang đứng ngắm cảnh bình minh bắt đầu tỏa rạng.

Xin đơn cử ra đây một ví dụ: lần đầu tiên khi tới đất nước này, đối với tôi nụ cười chỉ đơn thuần là nụ cười, và nó truyền tải thông điệp về sự mừng vui. Nhưng cho tới giờ, dù tổng số thời gian tôi ở Việt Nam chỉ vẻn vẹn có 4 tuần, song kho từ vựng của tôi về các kiểu cười đã được mở rộng đáng kể.

Chẳng hạn, có nụ cười mang ý: “Đúng, anh có thể làm việc đó”, nhưng cũng lại có nụ cười như muốn bảo: “Anh không được làm như thế đâu!”. Có nụ cười thể hiện rằng: “Tôi rất vui được gặp anh”, nhưng cũng có nụ cười hàm ý ngược lại.

Ngoài ra còn một số kiểu cười thể hiện tâm trạng không mấy vui vẻ của chủ nhân như: “Tôi rất thất vọng”, “Tôi không hiểu”, “Tôi đang bực mình đây”, và “Tôi muốn anh xéo đi chỗ khác!”

Trước đây, những nụ cười này chỉ mang một hoặc một vài ý nghĩa dễ hiểu. Thế mà giờ đây chúng lại đan xen biết bao nhiêu lớp nghĩa, khiến tôi không khỏi băn khoăn rồi theo thời gian, sẽ có thêm bao nhiêu ý nghĩa nữa được gán cho nụ cười của người Việt Nam.

Người phương Tây khi tới khu vực Đông Nam Á thường hay bình luận hoặc phàn nàn về những khó khăn trong giao tiếp cũng như về cái “khó hiểu” của người dân sở tại. Tôi không nói rằng người Việt khó hiểu, song để hiểu được họ chắc tôi cũng phải đầu tư kha khá thời gian.

Những khác biệt về của cải

Tôi đã hai lần tới Việt Nam (và hy vọng sẽ được quay lại đây nhiều lần nữa). Dưới đây là một số quan sát của tôi về người Việt, hay chính xác hơn là những quan sát này giúp tôi tìm hiểu rõ hơn về con người Việt.

Cái mà tôi nhận thấy nhiều nhất – cũng là cái “che mắt” tôi nhiều nhất – là những khác biệt về của cải.

Người phương tây chẳng gặp khó khăn gì khi bắt chuyện với người Việt. Nếu bạn tỏ ra thân thiện, lịch sự, và đi một mình, thì hầu như ai cũng sẵn lòng nói chuyện với bạn. Vì tôi không biết tiếng Việt, nên những cuộc trò chuyện của tôi rất phong phú, từ thứ ngôn ngữ cơ thể đơn giản cho tới những cuộc thảo luận sâu sắc với các học giả sở tại thông thuộc ngoại ngữ.

Người ta nói với tôi rằng (tuy tôi chưa có cách nào kiểm chứng điều này cả) người Việt Nam thường thân thiện với người nước ngoài hơn là với chính người đồng hương. Nhưng có một điều tôi chắc chắn, đó là trong nhiều quốc gia tôi từng đặt chân tới, thì Việt Nam là một trong những điểm đến ưa thích của tôi, bởi vì ở đây tôi có thể có những cuộc chuyện trò ý nghĩa với nhiều người.

Vì vậy mà tôi mới nhận thấy một vấn đề về tiền bạc. Theo kinh nghiệm cá nhân của tôi, Việt Nam đã và luôn là một nơi an toàn và tin cậy để thực hiện các hoạt động kinh doanh. Tôi không phàn nàn gì về những lối cư xử thiếu công bằng ở đây. Thực ra, tôi không có gì phải phàn nàn cả, chỉ đơn giản là một nhận xét thôi.

Người Việt không nên cho rằng vì họ không công khai thể hiện thái độ của mình mà người phương Tây không biết họ suy nghĩ ra sao về chuyện tiền bạc.

Ngược lại, tôi lại quan sát được điều này khá thường xuyên; và chẳng khó khăn gì để đoán được suy nghĩ trong đầu một ai đó khi họ đang có những ý nghĩ dạng như: “Anh ta có nhiều tiền hơn mình, thế thì tại sao anh ta lại không mua nó nhỉ?”, và “Nên làm gì để ra vẻ rằng mình không quan tâm tới tiền nong đây?”

Đến đây xuất hiện một điểm quan trọng – mà tôi hy vọng rằng nó sẽ không bị bỏ qua. Tôi không cảm thấy khó chịu khi thấy người Việt Nam suy nghĩ về tiền bạc.

Xã hội phương Tây, đặc biệt là xã hội Mỹ, đã lầm khi nghĩ rằng lúc nào cũng nên coi người châu Á là khác lạ. Ông bà tôi là người nhập cư, và cả ba thế hệ trong gia đình tôi đều đã phải vật lộn với cuộc sống hàng ngày, nhọc công vắt sức ra để kiếm tiền.

Thực tế này không có nghĩa là nền văn hóa của chúng ta giống nhau, hay là người Mỹ không cần phải làm gì để hiểu cho rõ về tình hình xã hội ở Việt Nam.

Nhưng như thế có nghĩa là một cuộc nói chuyện thẳng thắn về tiền bạc không phải là điều gì đáng ngại ngùng, có hại, hay phản tác dụng cả. Thật ra, nó có thể khiến mọi việc trở nên tốt đẹp hơn.

“Xin đừng nói có, nếu bạn không muốn”

Khi ở Việt Nam tôi học được câu “Vấn đề đầu tiên là tiền đâu”. Tôi đã viết câu đó lên một mảnh giấy rồi giơ lên cho những người khác xem với hy vọng rằng nó sẽ giúp cho cuộc nói chuyện của chúng tôi trở nên thành thật và thẳng thắn hơn. Thẳng thắn không phải là một đức tính xấu.

Theo tôi, điều này dẫn tới một thách thức lớn trong việc xây dựng mối quan hệ cá nhân tốt đẹp hơn giữa người Việt Nam và người Mỹ.

Vấn đề chính không phải là mâu thuẫn, dù rằng chúng ta có thể làm nhiều hơn nữa để đóng góp cho những cuộc thảo luận về các mâu thuẫn giữa hai dân tộc trong cả quá khứ và hiện tại.

Cái nguy hại ở đây là quan điểm cho rằng vì cơ hội tiếp xúc giữa người dân hai nước ngày càng lớn, nên mặc nhiên điều đó sẽ tự động củng cố sự hiểu biết lẫn nhau, hoặc cái sự hiểu biết này là không thật cần thiết.

Tôi xin nói về quan điểm thứ hai trước: chẳng phải tìm đâu xa, lần gần đây nhất tới thăm Việt Nam, tôi đã nhận thấy nhiều dấu hiệu đáng lo ngại cho thấy sự tức giận ngày càng gia tăng cả về phía người dân Việt Nam và người phương Tây.

Du khách phương Tây tới Sapa không giấu nổi những khó chịu vì liên tục bị làm phiền, khiến họ không thể tự do chiêm ngưỡng cảnh đẹp nơi cao nguyên, còn những người bán dạo địa phương thì tỏ rõ vẻ bực dọc khi mà du khách còn chưa đi khỏi.


Cái vòng tròn quẩn quanh này tồn tại ở bất kỳ địa điểm du lịch đông đúc nào, song nó cũng là một dấu hiệu cho thấy cần phải xây dựng mối quan hệ giữa người Việt Nam và người phương Tây trên một nền tảng bền vững hơn so với hiện nay. Gia tăng hiểu biết lẫn nhau là một yêu cầu bắt buộc.

Tuy nhiên, chúng ta sẽ không thể hiểu nhau hơn nếu chỉ biết “cười” suông như vậy, bởi cái cần có ở đây là những cuộc nói chuyện thành thật và chi tiết.

Cũng trong chuyến đi vừa rồi, tôi thậm chí còn nhờ người viết dòng chữ “Xin đừng nói có, nếu bạn không muốn” lên giấy và đưa cho bạn bè đọc trong cuộc nói chuyện giữa chúng tôi.

Một trong những rào cản lớn nhất trong giao tiếp là đối phương không thể biết khi bạn nói “có” thì thực lòng bạn có nghĩ đúng như vậy không. Bây giờ thì tôi không còn vồ vập học cách diễn giải nụ cười của người Việt Nam nữa.

Tôi không mong rằng họ sẽ thay đổi hoàn toàn cách sống của mình, bởi bản thân tôi cũng không thể làm được như thế. Nhưng tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ cùng hướng tới một mục tiêu chung là xây dựng một mối giao tiếp tích cực hơn, chất lượng hơn.

Quay trở lại với hình ảnh cảnh vật từ từ ló hiện sau màn đêm, tôi nhận thấy rằng mối quan hệ giữa người Việt Nam và người phương Tây đang tiến dần đến giai đoạn “bình minh” rồi.

Điều này đôi khi sẽ gây thêm nhiều khó khăn vì chúng ta không còn nhiều “bóng tối” để có thể giấu mình lại. Nhưng nó cũng khiến mọi việc trở nên tốt đẹp hơn vì tuy chúng ta kết thêm bạn mới nhờ vào những nụ cười, cử chỉ hay thói quen, song chúng ta lại không thể trở thành những người bạn mới được.

Mà những tình bạn mới và tốt đẹp hơn lại là những thứ chúng ta cần.

Thủy Nguyệt dịch

Nguồn: Diễn đàn kinh tế Việt Nam

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Giới thiệu cuốn sách: Làm Chủ Tư Duy, Thay Đổi Vận Mệnh

Posted by tiennganat on January 21, 2011

NHỮNG PHƯƠNG PHÁP HIỆU QUẢ GIÚP BẠN ĐẠT ĐƯỢC BẤT CỨ ĐIỀU GÌ BẠN MUỐN

Tác giả: Adam Khoo cùng Stuart Tan

Dịch giả: Trần Đăng KhoaUông Xuân Vy


Lời giới thiệu của dịch giả Trần Đăng Khoa

Nếu bạn đã sẵn sàng nắm lấy chìa khóa vạn năng mở cánh cửa thành công và hạnh phúc, còn chần chờ gì nữa mà không mở quyển sách Làm Chủ Tư Duy, Thay Đổi Vận Mệnh ngay bây giờ.

Bạn sẽ khám phá được bí mật của một người vốn bị coi là “đồ bỏ” vươn lên thành triệu phú ở tuổi 26, và làm thế nào áp dụng những bí quyết đó để biến những ước mơ của bạn thành hiện thực.

Việc bạn tìm đến quyển sách Làm Chủ Tư Duy, Thay Đổi Vận Mệnh chứng tỏ một điều:

  • Bạn tin rằng bạn có khả năng biến chuyển tình thế, cho dù bạn đang ở trong hoàn cảnh nào đi nữa.
  • Bạn biết rõ mình có thể đạt được nhiều hơn những gì bạn đang có ngày hôm nay.
  • Bạn biết rằng bạn hoàn toàn xứng đáng có được một cuộc sống thành công và hạnh phúc.

Đúng thế! Bạn hoàn toàn có thể đạt được những gì bạn muốn.

Vấn đề chỉ nằm ở PHƯƠNG PHÁP!

Thông qua quyển sách Làm Chủ Tư Duy, Thay Đổi Vận Mệnh, tác giả Adam Khoo sẽ chia sẻ với bạn những bí quyết đã giúp bản thân anh và hàng triệu người khác đạt được những thành công vượt ngoài sự mong đợi.

Những bí quyết ấy sẽ nằm trong tay bạn và giúp bạn biết được:

  • Tại sao việc thiếu tiền bạc và thời gian không phải là lý do thật sự của việc bạn không đạt được kết quả mong muốn? Vậy nguyên nhân thật sự nằm ở đâu?
  • Liệu có một Công Thức Thành Công Tuyệt Đỉnh không? Và công thức đó như thế nào?
  • Tại sao có rất nhiều người khao khát thành công nhưng chỉ có một số rất ít người thành công thật sự? Và bạn phải làm gì để trở thành một trong số ít đó?
  • Làm thế nào thành thạo kỹ năng giao tiếp và ảnh hưởng người khác một cách tích cực để đạt được kết quả bạn muốn?
  • Niềm tin hiện nay của bạn có thể hỗ trợ hay “giết chết” tương lai của bạn như thế nào?
  • Trạng thái cảm xúc của chúng ta được tạo ra như thế nào? Và bạn phải làm gì để sở hữu những trạng thái tích cực và phá vỡ những trạng thái tiêu cực?

Và còn rất nhiều rất nhiều… điều trong quyển sách đang chờ bạn khám phá!

Link tải về: tại đây

Nguồn: http://www.tgm.vn

Posted in Sách: Làm Chủ Tư Duy, Thay Đổi Vận Mệnh | Tagged: , , , , , , | Leave a Comment »

PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC MONTESSORI CHO TRẺ MẪU GIÁO

Posted by tiennganat on January 15, 2011

Lịch sử của phương pháp giáo dục Montessori

Tiến sĩ Maria Montessori, một bác sĩ và nhà giáo dục người Ý, đã phát triển phương pháp Montessori ở Rome, Italy. Tiến sĩ Montessori, làm việc với trẻ em được bảo hộ trong đầu những năm 1900, đã phát hiện ra rằng trẻ nhỏ trở nên thích thú khi tương tác với các đồ vật hấp dẫn. Thông qua sự tương tác  đó và kinh nghiệm thu được trong môi trường có chuẩn bị của bà, các em đã phát triển một mức độ cao kì lạ về khả năng trí tuệ và xã hội ở tuổi còn trẻ.

Mở rộng nghiên cứu về trẻ nhỏ, bà dần dần cải tiến phương pháp cho tất cả lĩnh vực phát triển của trẻ thông qua kinh nghiệm và nghiên cứu của mình ở các nước khác nhau như Tây Ban Nha và Ấn Độ cho đến khi mất vào năm 1952. Phương pháp Montessori hiện đang được thực hiện thành công với trẻ em ở gần như mọi quốc gia trên thế giới.

Phương pháp giáo dục Montessori

Phương pháp giáo dục Montessori đã có ảnh hưởng đáng kể tại Hoa Kỳ vào đầu những năm 1960, khi các bậc cha mẹ và nhà giáo dục bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục mầm non. Ngày nay có hơn 3.000 chương trình Montessori ở đất nước này, chúng có ảnh hưởng to lớn trong tất cả các khía cạnh của giáo dục Mỹ. Phương pháp Montessori được áp dụng thường xuyên nhất trong trường mẫu giáo và cấp bậc giáo dục tiểu học. Giáo dục Montessori không mang yếu tố tôn giáo, không phải là một liệu pháp, cũng không phải là một phương pháp hữu ích với chủ đích chỉ dành cho trẻ em đặc biệt. Phương pháp Montessori có hiệu quả trong trường mẫu giáo, trường tiểu học và trung học. Ngoài ra, các kỹ thuật Montessori có thể được sử dụng thành công với trẻ em có năng khiếu, trẻ em khuyết tật học tập và nhu cầu đặc biệt khác.

Tiến sĩ Marie Montessori

Triết lý giáo dục Montessori

Tiến sĩ Montessori phát triển triết lý giáo dục của mình thông qua quan sát và khám phá mà bà đã thực hiện về những phương thức học tập của trẻ em. Bà đã nhận thấy rằng trẻ em học tập theo các phương thức khác nhau rõ rệt ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Bà đã lập một chương trình giáo dục để đáp ứng các nhu cầu cụ thể của trẻ ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào, để giúp các em phát huy tối đa tiềm năng của mình.

Tiến sĩ Montessori không thích gọi nó là một “phương pháp”, mà là một “cách tiếp cận” cuộc sống. Bà nói: “Những gì tôi đã làm là chỉ đơn thuần là để nghiên cứu về trẻ em, đem ra và trình bày những gì chúng đã đem đến cho tôi.” Bà tin rằng không có ai được giáo dục bởi ai cả – anh ta phải tự làm điều đó, và do đó, mục tiêu của giáo dục mầm non phải là để bồi dưỡng mong muốn và khả năng tự nhiên của trẻ để học hỏi và bảo vệ bản tính thiết yếu của trẻ.

Học tập theo phương pháp Montessori

Ở trẻ nhỏ, Montessori đã phát hiện ra, có một năng khiếu đặc biệt cho việc học tập không tìm thấy một lần nữa ở bất kỳ giai đoạn khác của cuộc sống. Bà định nghĩa phẩm chất này là “trí tuệ tiếp thu”. Trẻ nhỏ tiếp thụ hoàn toàn thông tin từ môi trường xung quanh mình. Trong các khoảng thời gian nhất định trong giai đoạn phát triển này / chúng có khảng năng dễ dàng hơn khi tiếp thu các loại hình riêng biệt của việc học tập. Tiến sĩ Montessori gọi những thời kỳ này là “thời kỳ nhạy cảm”. Thu thập thông tin theo cách này là một hoạt động tự nhiên và thú vị đối với trẻ em, chúng sử dụng tất cả các giác quan của mình để khám phá môi trường xung quanh thú vị của mình.

Trẻ em vẫn giữ được khả năng học bằng cách hấp thu cho đến gần bảy tuổi, Tiến sĩ Montessori lý giải rằng ở lớp học nơi trẻ em có thể tiếp xúc với các đồ vật mang thông tin giáo dục cơ bản thì có thể làm phong phú thêm kinh nghiệm của chúng. Montessori đã thiết kế chỉ những lớp học kiểu này, và bà gọi nó là “môi trường được chuẩn bị”. Trong môi trường này mọi thứ đều được thu nhỏ tới kích thước phù hợp cho trẻ; đồ vật hấp dẫn, mô phạm, và được trình bày một cách có trật tự. Các đồ vật bao trùm các lĩnh vực của đời sống thực tế (về con  người và môi trường); nhận thức theo giác quan, ngôn ngữ, toán học, và các chủ đề văn hoá (nghệ thuật, âm nhạc, địa lý, lịch sử và khoa học). Trong lớp học môi trường xung quanh là các giáo viên thực sự, lấy trẻ em là trung tâm.

Các nhiệm vụ của Giáo viên Montessori là:

  • chuẩn bị một loạt các hoạt động thúc đẩy liên kết trẻ với các đồ vật;
  • định hướng và lựa chọn đồ vật phù hợp với sức lực của trẻ, theo trạng thái phát triển của chúng;
  • minh chứng sự sử dụng đồ vật phù hợp của trẻ và sau đó để tránh không can thiệp.

Trong môi trường được chuẩn bị, trẻ em ở các lứa tuổi và khả năng khác nhau hoạt động, mỗi em ở mức độ của chúng, không bao giờ phải chịu áp lực cạnh tranh với các bạn khác cùng lớp.  Trẻ em gọi các hoạt động của chúng như là “làm việc”.  Chúng nói về “làm việc” với niềm tự hào, coi nó giống như công việc của cha mẹ chúng.

Chương trình được thiết kế để giúp trẻ phát triển tập trung, phối hợp, kỷ luật nội tại, và thói quen làm việc tốt. Khi trẻ đạt được tự chủ/tự kỷ luật, chúng được cho phép tự do ngày càng lớn hơn để chuyển sang môi trường và làm việc với bất cứ đồ vật nào chúng chọn, miễn là giáo viên thấy phù hợp với mức độ phát triển của đứa trẻ và chúng được sử dụng theo cách đã thiết lập.

Học qua làm

Những đứa trẻ trong một lớp học Montessori học thông qua làm, chúng theo đuổi nhiệm vụ của mình một cách độc lập theo nhóm hoặc một mình. Giáo viên Montessori hoạt động như một người chỉ dẫn và là nhân tố kích thích tính tò mò không bao giờ kết thúc của trẻ. Các đồ vật Montessori được thiết kế để tự điều chỉnh, khuyến khích giải quyết vấn đề độc lập và loại bỏ vai trò, cải huấn kỷ luật của giáo viên truyền thống. Giáo viên Montessori và học sinh là bạn nhanh chóng với một sự tôn trọng lành mạnh dành cho nhau.

Montessori tin rằng một đứa trẻ được cho phép để phát triển nhân cách của mình một cách tự do và độc lập, nó được khuyến khích để tìm hiểu và thử nghiệm những điều mới mẻ sẽ phát triển trách nhiệm và tính sáng tạo trưởng thành nhiều hơn nhiều so với một đứa trẻ bị áp lực và kỷ luật. Triết lý của cô là không được nhầm lẫn với sự quá dễ dãi như thường được hiểu. Có một trật tự trong một lớp học Montessori làm việc vì tiến bộ của mọi người. Trẻ em nhanh chóng học được rằng nếu chúng chăm sóc cho môi trường và đồng loại của chúng, chính chúng sẽ có nhiều kinh nghiệm phong phú hơn. Chúng học rằng tự do là quý giá, nhưng để giữ lại nó, chúng ta phải chịu những trách nhiệm nhất định.

Môi trường Montessori

Môi trường Montessori mang tính xã hội cao trong đó trẻ em được giao tiếp thường xuyên với và chăm sóc cho nhau. Chúng tự hào về môi trường của chúng, vì chúng là trực tiếp tham gia chăm sóc và đóng góp vào nó. Có một mối lượng lớn của đồ vật sẵn có cho chúng liên quan đến thực vật và động vật trên khắp thế giới. Nghệ sĩ và nhạc sĩ được hình dung thông qua những bản sao và bản ghi âm tác phẩm của mình, và trẻ em vào thế giới nghệ thuật thông qua việc tham gia vào nghệ thuật và hàng thủ công và các hoạt động âm nhạc.

Nguồn: http://www.alfredmontessori.com (biên tập lại từ googetranslate)

 

Posted in Lượm lặt, Mỹ | Tagged: , , , , , , , , | 1 Comment »

Học người Mỹ cách dạy trẻ con mẫu giáo

Posted by tiennganat on January 15, 2011

Thử xem nền giáo dục Mỹ, nền giáo dục được coi là tiên tiến và hiện đại bậc nhất thế giới dạy trẻ em mẫu giáo như thế nào nhé!

Một nhà khoa học đoạt giải Nobel khi được hỏi, ở đâu ông học được những kiến thức khiến ông trở nên vĩ đại như vậy? đã trả lời rằng: Nơi tôi học được nhiều nhất đó là vườn trẻ, vì rằng, ở đó người ta dạy tôi cách biết tuân thủ các quy định, biết nói xin lỗi khi mình sai…

Có lẽ sẽ là thừa khi chúng ta nhắc lại ở đây những lý luận nhằm chứng minh vai trò rất quan trọng của giáo dục trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo đối với quá trình phát triển nhân cách của trẻ. Tuy nhiên, câu trả lời sẽ trở nên thú vị, khi chúng ta tìm hiểu việc giáo dục trẻ em độ tuổi mẫu giáo ở Mỹ, nơi nền giáo dục được coi là hiện đại và tiên tiến bậc nhất trên thế giới.

Dạy trẻ từ tính tự lập

Người Mỹ rất coi trọng tinh thần độc lập, tự lực cánh sinh của mỗi người. Vì thế, ngay từ khi trẻ một tuổi rưỡi, họ đã bắt đầu dạy cho trẻ các kỹ năng tự phục vụ bản thân. Họ cho rằng, nắm bắt các kỹ năng tự phục vụ có thể giúp trẻ tăng cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công, nó không chỉ có lợi cho sự phát triển của trẻ mà còn giúp ích rất nhiều cho chính những người lớn.
Những người làm công tác giáo dục mẫu giáo ở Mỹ đều được nhấn mạnh việc giáo dục cho trẻ những kỹ năng tự phục vụ. Bất cứ sự chăm sóc nào từ phía người lớn cũng phải tạo cho trẻ những cơ hội để rèn luyện cho trẻ các kỹ năng này. Đồng thời, họ cũng đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của gia đình để giúp các kỹ năng mà trẻ được dạy ở lớp được rèn luyện và thực hành ngay tại nhà.

Các kỹ năng tự phục vụ của trẻ bao gồm: Buộc dây giầy, mặc quần áo, cài cúc áo, kéo phéc-mơ-tuya, rửa mặt, đánh răng, chải đầu, ăn cơm… Tuy nhiên, những kỹ năng này không đồng nhất ở tất cả các giai đoạn phát triển của trẻ. Các nhà nghiên cứu, sau nhiều năm nghiên cứu và quan sát đã chỉ ra rằng: Trẻ từ 18-24 tháng có thể tự dùng cốc uống nước, có thể tự nhặt lấy đồ chơi; từ 2-3 tuổi có thể học cách tự mình đi đại tiểu tiện, ăn cơm, mở phéc-mơ-tuya và mặc quần áo; từ 3-4 tuổi, tính độc lập của trẻ đều phát triển mạnh, những kỹ năng đã học được ở trên đều trở nên thành thục hơn, gần như trẻ có thể làm mà không cần sự giúp đỡ của người lớn; từ 5-6 tuổi, trẻ có thể học cách tự rửa bát, sắp xếp đồ đạc của mình ngay ngắn,…

Những giáo viên mẫu giáo Mỹ khi rèn luyện cho trẻ khả năng tự lập thường dùng phương pháp là: Đồng thời với việc đề ra nhiệm vụ, họ cũng đưa ra những điều kiện để trẻ có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách dễ dàng hơn. Chẳng hạn, để dạy trẻ tự mang giày, họ thường đưa cho trẻ những đôi giày to hơn một chút so với cỡ chân của các em. Hoặc để dạy trẻ tự rót nước sữa, họ đưa cho trẻ những bình sữa có miệng to giúp trẻ thực hiện công việc một cách dễ dàng hơn. Cách làm như vậy sẽ gây cho trẻ hứng thú cũng như tự tin trong việc hoàn thành các “nhiệm vụ”.

Đến sự lễ phép

Ở các trường mẫu giáo ở Mỹ, ngoài việc khơi mở trí lực giai đoạn đầu cho trẻ, người ta rất coi trọng việc dạy cho trẻ các quy tắc lễ nghi. Yêu cầu đối với mỗi em là phải nghe theo lời chỉ bảo của các giáo viên, học cách tham gia các hoạt động tập thể cùng với những học sinh khác. Trong các trường mẫu giáo ở Mỹ, mỗi khi có một bạn nhỏ hắt xì, sẽ phải nói với những người bạn xung quanh của em rằng: “Xin lỗi!”, ngược lại, những người bạn của em sẽ nói: “Chúc phúc cho cậu!”. Điều này đã trở thành một hành vi tự giác của trẻ.

Đối với những trẻ em phạm lỗi, không nghe lời,… người ta thường dùng phương pháp “phạt ở một mình”. Lý do là, trẻ em ở độ tuổi này sợ nhất là việc phải ở một mình. Hơn nữa, phương pháp này cũng có tính khoa học của nó. Khi trẻ bình tĩnh trở lại, mới giảng giải điều hay lẽ phải cho trẻ hiệu quả sẽ cao hơn rất nhiều. Tất nhiên việc “giam” một mình đối với trẻ có phần nào đó khó chấp nhận đối với các bậc phụ huynh, tuy nhiên, nó có thể tạo được ảnh hưởng tích cực, đó chính là giúp trẻ hình thành thói quen giữ bình tĩnh trở lại khi đang tức giận. Nổi nóng ở những nơi công cộng là điều dường như không ai có thể chấp nhận được ở Mỹ. Do đó có thể khống chế được tình cảm của bản thân, bất luận trong tình huống như thế nào cũng có thể bình tĩnh ứng xử là một nội dung quan trọng trong các mối quan hệ công chúng ở Mỹ. Phong độ cũng như sự trầm tĩnh của người Mỹ, có lẽ liên quan nhiều đến phương pháp giáo dục ngay từ độ tuổi mẫu giáo này.

Trong việc giáo dục những lễ nghi ứng xử cho trẻ ở giai đoạn này, một trong những yếu tố rất được đề cao là vai trò của người giáo viên. Ở độ tuổi mẫu giáo, những điều trẻ học được không phải là những lý giải mà là những mô phỏng. Vì thế, nếu như những thầy cô giáo ở trường có thái độ không tốt đối với trẻ, chúng sẽ học theo các thầy cô, đối xử không tốt với bạn bè và người xung quanh. Nói cách khác, hành vi của giáo viên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý cũng như sự hình thành tính cách của trẻ. Do đó, những giáo viên mẫu giáo ở Mỹ đều phải thông qua những yêu cầu rất nghiêm ngặt về trình độ. Bên cạnh yêu cầu trình độ cử nhân trở lên, những giáo viên này còn phải thông qua một chương trình tập huấn chuyên nghiệp và đạt được “Chứng chỉ giáo viên mẫu giáo” hoặc “Chứng chỉ giáo viên tiểu học”. Những năm gần đây, một số bang của Mỹ còn đưa ra yêu cầu trình độ tối thiểu là thạc sỹ đối với các giáo viên ở trường mẫu giáo.

Sự tôn trọng: Chất “dinh dưỡng” đặc biệt

Cô trò trong lớp mẫu giáo (ảnh: Internet)

Ở Mỹ, việc tôn trọng trẻ em không chỉ vì chúng nhỏ tuổi, cần sự ưu ái, quan tâm, chăm sóc mà còn vì trong quan niệm của họ, mỗi đứa trẻ ngay từ khi ra đời đã là một cá thể độc lập, có cá tính và những mong muốn độc lập của mình. Bất kể là bố mẹ hay thầy cô giáo đều không có đặc quyền chi phối và hạn chế hành vi của chúng. Đặc biệt là trẻ em, sau này trưởng thành, cha mẹ hay thầy cô không thể thay thế thế chúng trong những lựa chọn mà chúng phải đối mặt trong hiện thực. Vì thế, cần phải làm cho trẻ cảm thấy rằng, bản thân chúng, chứ không phải ai khác là chủ nhân của mình.

Chẳng hạn, người Mỹ rất chú ý đến phương pháp cũng như giọng điệu khi nói chuyện với trẻ. Khi nói chuyện với trẻ, người lớn không chỉ phải chăm chú nghe mà có lúc còn phải quỳ xuống để nói chuyện với trẻ một cách “bình đẳng”, khiến trẻ cảm thấy được tôn trọng. Khi trẻ ăn cơm, không thể ép, khi trẻ phạm lỗi không nên quở mắng quá lời, khi muốn trẻ thay quần áo, cũng không thể to tiếng quát nạt,… nếu không, sẽ làm cho trẻ cảm giác nặng nề và tự ti.

Người Mỹ, khi đem con đến nhà người khác, nếu như chủ nhân đưa đồ ăn cho trẻ, họ sẽ không thay trẻ nói những câu đại loại như: “Không ăn đâu!”, “Không cần đâu!”,… Đồng thời, khi trẻ tỏ ý muốn ăn đồ ăn, họ cũng sẽ không to tiếng quát mắng. Họ cho rằng, trẻ muốn xem gì, ăn gì, bản thân nó không có gì sai, nếu như trẻ có nhu cầu đó, không có lý do gì có thể chỉ trích chúng cả. Điều những người lớn phải làm là, căn cứ vào thời điểm thích hợp mà đưa ra sự giảng giải thích hợp để trẻ hiểu, với tư cách là “người hướng dẫn”. Người Mỹ phản đối việc dạy dỗ con cái trước mặt người khác, càng không cho phép việc trách mắng là “ngu dốt”, “chẳng làm nên trò trống gì”, “không có chí khí”,… trước mặt nhiều người. Vì rằng, cách dạy dỗ đó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tự tin cũng như sự phát triển về sau của trẻ.

Nhà giáo dục vĩ đại John Locke từng nói: “Bố mẹ không nói nhiều đến các lỗi của con cái thì chúng sẽ ngày càng coi trọng danh dự của bản thân, từ đó cố gắng để đạt được những lời khen ngợi của người khác đối với mình. Nếu như cha mẹ trước mặt mọi người nhắc đến lỗi lầm của trẻ sẽ khiến chúng xấu hổ. Trẻ em càng cảm thấy danh dự của bản thân bị tổn hại, lại càng ít chú ý đến việc giữ gìn danh dự”. Có người cho rằng, người Mỹ đã tôn trọng con cái một cách quá đáng, nhưng thực tế đã chứng minh, những trẻ em được bố mẹ chúng tôn trọng tỏ ra rất hợp tác với bố mẹ, hữu hảo với bạn bè, rất lễ phép, không có cảm giác mất tự nhiên khi nói chuyện với người lớn.

Hai mươi phút quan trọng trong ngày

Nhiều nhà giáo dục Mỹ kêu gọi các bậc cha mẹ dành 20 phút mỗi ngày để đọc sách cho con cái của mình nghe. Hai mươi phút là thời gian không dài nhưng sẽ rất hữu ích với trẻ. Qua giọng đọc rủ rỉ của cha mẹ mỗi ngày, hứng thú về việc đọc sách sẽ dần được hình thành trong trẻ. Bên cạnh đó, thực tiễn đã chứng minh, việc trẻ được nghe đọc sách thường xuyên có thể giúp trẻ tăng cường khả năng chú ý, vốn từ vựng, kích thích, khơi gợi trí tưởng tượng, mở rộng tầm nhìn và kiến văn cho trẻ,… Vì thế, ở Mỹ các chuyên gia đều khuyên các bậc phụ huynh đọc sách cho trẻ nghe càng sớm càng tốt.

Đọc sách cho con (ảnh: Internet)

Người Mỹ rất chú trọng việc đọc sách cho trẻ nghe mỗi ngày. Tại bang Hawaii nước Mỹ, các nhà giáo dục kết hợp với chính quyền nơi đây đã tổ chức cả một hoạt động quy mô: “Hãy đọc vì trẻ em”, kêu gọi các bậc phụ huynh mỗi ngày dành ít nhất là 10 phút để đọc sách cho trẻ nghe. Hoạt động này nhanh chóng lan rộng ra các bang khác của Mỹ với quy mô ngày càng lớn. Từ đó, không ít các tập đoàn kinh tế tổ chức và tham gia các loại hoạt động tương tự, đồng thời gọi đó là: “Hai mươi phút quan trọng nhất trong ngày của bạn”.

Lâu nay, người ta nói nhiều, bàn nhiều đến giáo dục Mỹ với một sự ngưỡng vọng về một nền giáo dục hiện đại và phát triển nhất thế giới. Điều gì tạo nên thành công của nền giáo dục Mỹ? Nguyên nhân thì có rất nhiều, song, có lẽ một trong những nguyên nhân quan trọng là người Mỹ đã quan tâm một cách thực sự đến việc giáo dục và đào tạo con người ngay từ giai đoạn đầu tiên. Cách mà người Mỹ dạy trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo có lẽ sẽ cho chúng ta nhiều gợi ý về một sự quan tâm đúng mức trong việc giáo dục trẻ ở giai đoạn này.

Nguồn: Afamily.vn -Theo Chúngta

Posted in Bài học về cách dạy con, Lượm lặt, Mỹ | Tagged: , , , , | 1 Comment »